BẠCH ĐỒNG NỮ: Dược Liệu Thanh Nhiệt, Hạ Huyết Áp Và Giải Độc Từ Tự Nhiên

Trích từ sách: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: GS. Đỗ Tất Lợi

Tên gọi và phân loại

Còn gọi là bản trắng, vậy trắng, mãn trắng, mộ trắng.

Tên khoa học Clerodendrum fragrans Vent.

Thuộc họ Có roi ngựa (Verbenaceae).

Ta thường dùng lá và rễ phơi khô hay sấy khô của cây bạch đồng nữ (Folium Clerodendri và Ra-dix Clerodendri).

Tuy nhiên, tên “bạch đồng nữ” thực tế còn được dùng để chỉ ít nhất ba loài khác nhau, vì vậy cần phân biệt rõ ràng khi sử dụng (xem phần chú thích cuối bài).

Mô tả cây

Cây nhỏ cao chừng 1m đến 1,5m. Lá rộng hình trứng, đài 10 – 20cm, rộng 8 – 18cm, đầu nhọn, phía cuống hình tim hay hơi phẳng, mép có răng cưa to, thó, mặt trên màu sắm hơn, có lông ngắn, mặt đưới có màu nhạt hơn, gần như bông, trên những đường gân hơi cố lông mềm, vỏ có mùi hơi hôi đặc biệt của cây mò, cuống lá dài khoảng 8cm. Hoa màu hỏng nhạt bay trắng, có mùi thơm, mọc thành hình mâm xôi gồm rất nhiều tấm, toàn cụm hoa có đường kính khoảng 10cm. Đài hoa hình phâu, phía trên xẻ 5 thùy hình 3 cạnh tròn. Tràng hoa đường kính 1,5cm, phía dưới thành hình ống nhỏ, dài 2,5cm hay hơn, 4 nhị dính trên miệng ống tràng cùng với nhị thòi ra quá tràng. Vòi nhụy thường ngắn hơn chỉ nhị. Bầu thượng hình trứng. Quả hạch gần hình cầu, còn đài tồn tại bao ở ngoài.

Bạch đồng nữ – Clerodendron fragrans

Phân phối thu hái và chế biến

Distribution, Harvesting, and Processing

Cây bạch đồng nữ mọc hoang ở khắp nơi ở nước ta, miền núi cũng như miền đồng bằng, hoa thường nở vào tháng 7 – 8. quả chín vào tháng 9 – 10.

Có mọc ở nhiều tỉnh miền nam Trung Quốc, Philipin, Indonesia.

Thường hái lá vào quanh năm, tốt nhất vào lúc cây đang và sắp ra hoa. Hái về phơi hay sấy khô, không phải chế biến gì đặc biệt. Có thể dùng rễ: Đào rễ về rửa sạch, phơi hay sấy khô.

Khi dùng thái mỏng sắc uống. Nhân dân thường dùng rễ sắc uống, còn lá chỉ dùng nấu nướcđùng ngoài. Nhưng kinh nghiệm chúng tôi từ lâu đều chỉ dùng lá sắc uống và dùng ngoài.

Thành phần hóa học

Chưa có tài liệu nào nghiên cứu. Sơ bộ nghiên cứu, chúng tôi chỉ mới thấy trong nước sắc lá có rất nhiều muối canxi. Trong một loài Clerodendron trichotomum Thunb, chưa phát hiện thấy ở nước ta, nhưng gần đây rất hay được dùng ở Trung Quốc với tên xú ngó đồng (hay Hái châu thường sơn) người ta cũng thấy có rất nhiều muối canxi, ngoài ra còn ancaloit như orixin C18H23O6N, orixidin C15H13O4N, iso-orixin, kokusagin C13H9N4O và tính dầu (theo Khâu Thần Ba-Trung dược chí hoá học dữ dược lý tr. 68).

Chemical Constituents

(Source: Khâu Thần Ba – Chinese Materia Medica Chemistry and Pharmacology, p. 68)

Tác dụng dược lý

Cây bạch đồng nữ chưa thấy tài liệu nghiên cứu.

Năm 1968, bộ môn dược liệu phối hợp với phòng đông y thực nghiệm Viện đông y nghiên cứu thấy bạch đồng nữ của ta có tác dụng hạ huyết áp do dãn mạch ngoại vi; ngoài ra có tác dụng lợi tiểu, có khả năng ngăn chặn phản ứng viêm do phenol gây ra trên tai thỏ.

Cây xú ngô đồng (Trung Quốc) gần đây được nghiên cứu nhiều:

A. Tác dụng hạ huyết áp:

Theo Trần Gia Kỳ và Vường Ngọc Nhuận (1957, Thượng Hải trung được tạp chí 4, tr 5-10), trong nhân dân chỉ dùng một vị này chữa đau đầu đau nhức do phong thấp, tiến hành thí nghiệm trên động vật chứng minh có tác dụng hạ huyết áp rõ rệt; trên một nửa số động vật thí nghiệm thấy huyết áp giảm xuống đột ngột, trên một nửa số con vật khác, huyết áp xuống từ từ nhưng kéo dài; đốt với chuột nhất trắng thì còn hơi có tác dụng trấn tĩnh, không gây ngủ. Đối với mạch, xú ngô đồng có tác dụng trực tiếp gây dãn mạch.

B. Tác dụng giảm đau:

Cũng trong số báo trên, Vương Ngọc Nhuận còn chứng mình trên thực nghiệm rằng xú ngô đồng có tấc dụng làm hết đau; cây thu hoạch trước khi ra hoa có tác dụng mạnh hơn sau khi ra hoa.

Trên làm sàng, Nhân dân y viện ở Thượng Hải đã dùng xú ngô đồng chữa hơn 430 người đạt kết quả 72-81,87%, rõ rệt nhất 32-50%, thời gian uống càng lâu, kết quả càng tốt. Đối với người trên 40 tuổi mắc bệnh, kết quả đạt tới 91,7%, đối với người có mạch máu đã xơ cứng và bệnh đã kéo đài lâu cũng có kết quả.

Bạch đồng nữ – Clerodendron squamatum

Trên lâm sàng, kết quả giảm huyết áp thường xuất hiện chậm, thường thường phải uống 4-5 tuần lễ mới thấy kết quả, nhưng huyết áp hạ xuống rõ rệt. Tuy nhiên ngay sau khi bắt đầu uống một hai tuần lễ đã thấy người để chịu; những triệu chứng đau đầu, hoa mắt, mất ngủ hết dần. Khi huyết áp hạ tới mức bình thường dù chỉ uống một thời gian ngắn, huyết áp cũng không tăng lên. Nhưng nếu chị uống một hai tuần lễ, huyết áp lại có xu hướng tăng lên, do đó huyết áp đã giảm tới mức nào rồi vẫn phải dùng thuốc với một liều thích hợp để duy trì kết quả.

Tác dụng phụ của xú ngô đồng rất ít: một số ít bệnh nhân thấy khô cố, nôn mửa. Ngày dùng 10-15g chia 3-4 lần uống trong ngày cho đến khi huyết áp hạ xuống mức bình thường thì giảm liều xuống còn 2-4g một ngày.

Công dụng và liều dùng

Trong nhân gian, lá bạch đồng nữ hay mò trắng nói trên thường chỉ hay dùng ngoài; không kể liều lượng người ta hái lá tươi về vò nát hay giã nát lấy nước hoặc sắc lấy nước dùng tắm ghẻ, mụn nhọt hay rửa chốc đầu .

Dựa vào kinh nghệm gia đình, chúng tôi thường dòng lá bạch đồng nữ sắc uống chữa bệnh khí hư, bạch đới với liều 15-20g lá khô, thêm nước vào đun sôi giữ sôi trong nửa giờ lấy ra uống. Chúng tôi thường dùng phối hợp vị này với ích mẫu, hương phụ với ngải cứu.

Các lương y khác thường chỉ dùng rễ cây bạch đồng nữ.

Ngoài những công dụng kể trên, mới đây dựa trên kinh nghiệm nhân dân địa phương, bệnh viện Lạng Sơn đã dùng rễ cây bạch đồng nữ và xích đồng nam (hoa đỏ- xem phần chú thích ở dưới) chữa bệnh vàng da và niêm mạc, nhất là niêm mạc mắt bị vàng thẫm, kiểm nghiệm nước tiểu có sắc tố mật. Dùng dưới dạng thuốc sắc hay thuốc viên. Sắc: Rễ bạch đồng nữ 10g, nước 400ml, sắc còn một bát (200ml), chia 2 lần uống trong ngày, có thể dùng cả rễ và t hân cây thái  nhỏ 600g sắc với 5 lít nước và cô đặc còn 90g, thêm tá được vào làm thành viên (120viên), mỗi viên nặng 1g; ngày uống 8 viên chia làm bai lần (Y học thực hành 2-1962).

Xích đông nam – Clerodendron inƒortunatum

Chú thích:

Tên bạch đồng nữ và xích đồng nam còn dùng để chỉ một số cây khác, về hình đáng thì gần giống, chỉ khác về màu hoa và cách xếp hoa trên cành.

1. Thứ hoa trắng gọi là bạch đồng nữ, màu trắng, tên khoa học là Clerodendron Squamatum L. cùng họ. Lá mầu nhạt hơn cây trên; mỏng hơn, răng cưa nhỏ thanh hơn; hoa mọc thưa không thành hình mâm xôi như cây trên, màu hoa hơi giống màu mỡ gà. Nhiều người chỉ dùng cây này uống còn cây trên chỉ dùng tắm ghẻ hoặc rửa ngoài và thường nhân dân chỉ hay dùng rễ. Theo kinh nghiệm gia đình và bản thân, dùng cả hai cây đều được nhưng cây có kiểu hoa mâm xôi phổ biến dễ tìm hơn ( Hình 9, Hm 2,3 ).

2. Thứ hoa có màu đỏ gọi là mò đỏ, xích đồng nam Clerodendron inƒfortunatum L. (cũng có người gọi là xích đồng nữ cùng họ Cỏ roi ngựa Verbenaceae). Rất giống cây Clerodendron Squamatum L. Chỉ khác là hoa đỏ. Cùng một công dụng, nhưng thường ít dùng hơn loại hoa trắng ( Hình 10, Hm 2,4 ).

3. Ngoài các loại kể trên, năm 1967 chúng tôi thấy ở vùng mát tỉnh Lào Cai (Sapa) mấy cây rất giống cây mò mâm xói, nhưng hoa màu tím đỏ hay phớt hồng. Chúng tôi chưa xác định được tên cũng chưa thấy nhân dân ở đây dùng làm thuốc. Cần chú ý nghiền cứu.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ hàng