Trích từ sách: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: GS. Đỗ Tất Lợi
Tên gọi và phân loại
Hương phụ còn được biết đến với tên cỏ cú, củ gấu.
Tên khoa học: Cyperus rotundus L.
Thuộc họ Cyperaccae (họ Cói).
Vị dược liệu hương phụ là thân rễ (Rhizoma Cyperi) đã phơi hoặc sấy khô của cây Cyperus rotundus L. Ngoài ra, dân gian còn dùng củ của hải hương phụ (Cyperus stoloniferus Reiz) mọc nhiều ở các bãi cát ven biển.
Trong canh tác nông nghiệp, cỏ gấu là loài khó diệt. Tuy vậy, nếu biết sử dụng đúng cách thì đây lại là vị thuốc quý. Câu truyền của Đông y “Nam bất thiểu trần bì, nữ bất ly hương phụ” cho thấy vai trò trọng yếu của hương phụ trong điều trị bệnh lý phụ nữ. Khi làm cỏ, nếu xử lý hợp lý có thể vừa dọn cỏ vừa thu được dược liệu.
Mô tả cây
Cỏ gấu là một loại cỏ sống lâu năm, cao 20 – 60cm. Thân rễ phát triển thành củ, kích thước thay đổi tùy theo đất tơi xốp hay chặt. Ở vùng bờ biển củ to dài còn gọi là hương phụ vùng biển. Lá nhỏ hẹp, ở giữa lưng có gân nổi lên, cứng và bóng, phần đưới lá ôm lấy thân cây.
Đến mùa hoa, trên ngọn xuất hiện 3 – 8 cụm hoa dạng tán, màu xám nâu. Hoa lưỡng tính, 3 nhị, bao hoa dài chừng 2 mm, đầu nhụy chẻ làm 2 nhánh mảnh như lông tơ. Quả 3 cạnh màu xám.

Hương phụ – Cyperws rotundus
Phân bố, thu hái và chế biến
Củ gấu mọc hoang ở khắp nơi trên đồng ruộng, ven đường. Tại ven biển, đất cát xốp củ to hơn, để đào hơn. Đối với nhà nông, đây là một loại cỏ rất khó tiêu diệt. Chỉ cần sót lại một mẩu thân rễ nhỏ cũng đủ phát triển. Còn thấy mọc những ở nước khác vùng châu Á như Trung Quốc, Triểu Tiên, Nhật Bản, Inđônêxia.
Hiện việc thu hái chủ yếu dựa vào nguồn hoang dại, chưa có mô hình trồng. Có thể kết hợp với làm cỏ vườn ruộng để thu. Thường đào vào mùa xuân, nhưng mùa thu cho củ chắc và tốt hơn.
Sau khi đào cả cây, đem phơi khô, vun thành đống để đốt. Khi lá và rễ con cháy hết, nhặt củ còn lại, rửa sạch rồi phơi hoặc sấy. Khi dùng có thể dùng sống, sắc, ngâm rượu hoặc tán bột. Nhiều lương y có quy trình chế biến cầu kỳ, song theo kinh nghiệm của tác giả, không chế biến thêm vẫn cho hiệu quả tốt.

Lương y thường dùng tứ chế hoặc thất chế, trong đó tứ chế phổ biến hơn. Cách thực hiện tứ chế thường dùng:
Cân 1 kilôgam hương phụ, chia làm 4 phần:
- 250g ngâm với 200ml giấm 5% axit axetic
- một phần ngâm rượu 40%
- một phần ngâm nước tiểu trẻ em khỏe mạnh, bỏ phần đầu và cuối, chỉ lấy giữa dòng.
- một phần ngâm nước muối 15%.
Thời gian ngâm thay đổi tùy theo mùa:
- 1 ngày 1 đêm nếu là mùa hè
- 3 ngày 3 đêm nếu là mùa thu
- 7 ngày 7 đêm nếu là mùa đông.
Cuối cùng lấy ra sao hay phơi khô rồi trộn đều 4 phần với nhau.
Theo lý luận đông y:
- Ngâm giấm vị chua là để thuốc vào gan
- Muối vị mặn sẽ dẫn thuốc vào thận
- Rượu bốc lên cho nên dẫn thuốc đi lên trên
- Nước tiểu thêm tác dụng bổ
Đáng lẽ chia 4 phần, có người dùng giấm và rượu mỗi thứ 160g, muối 20g, nước tiểu trẻ con mạnh khỏe vừa đủ để ngập hương phụ, cho vào đó 600g hương phụ rồi ngâm theo thời gian nói trên, cuối cùng sấy hay phơi khô mà dùng.
Thất chế là tẩm thêm 3 lần nữa như nước gừng, nước cam thảo, nước vo gạo để đủ 7 loại. Thực tế có nhiều biến thể, cần xác định rõ loại hương phụ dùng khi nghiên cứu hay bào chế. Tác giả ghi nhận hơn 20 năm không chế biến vẫn cho kết quả tốt.
Thành phần hóa học
Hoạt chất chủ đạo chưa xác định hoàn toàn. Hương phụ chứa 0,3 – 2,8% tinh dầu màu vàng, mùi thơm nhẹ đặc trưng.


Thành phần tinh dầu ghi nhận khoảng 32% cyperen (C15H24) và 49% rượu cyperola (C15H24O). Ngoài ra còn có acid béo, phenol, nhiều tinh bột. Tinh dầu hương phụ Ấn Độ còn có cyperon.
Do nguồn gốc thực vật khác nhau nên thành phần tinh dầu giữa vùng Trung Quốc và Nhật Bản có khác biệt. Trong tinh dầu hương phụ Trung quốc có thành phần chủ yếu là cyperen (độ sôi 104°C/5mm thủy ngân) và Izocyperotundone, còn trong tình dầu hương phụ Nhật bản có thành phần chủ yếu là cyperol, cyperenol (độ chảy 94°C) chiếm 49%, cyperen 32% và α-cyperon (độ sôi 177°C/20mm thủy ngân), cyperotundon và cyperolon (độ chảy 41-42°C) (Lam Khả: Thọ, 1977, 580):
Tác dụng dược lý
Các nghiên cứu cổ điển ghi nhận:
- Theo Trương Phát Sơ, Trương Diệu Đức và Lưu Thiệu Quang (1935, Trung Hoa y học tạp chí tập 1, kỳ 2: 148-156) đã dùng vị hương phụ nguồn gốc ở tỉnh Quảng Đông, nhưng bán ở Nam Kinh chế thành cao lỏng 5%, tiến hành thí nghiệm 102 lần trên từ cung cô lập của thỏ, mèo, chó và chuột bạch đã chứng mình hương phụ có khả năng ức chế sự co bóp của tử cung, làm giảm trương lực tử cung ở cả con vật có thai và không có thai, gợi ý tác dụng trực tiếp lên cơ tử cung. So với đương quy, tác dụng tương tự nhưng yếu hơn.
- Năm 1959, một số tác giả ở Quí Dương y học viện (Trung Quốc) báo cáo nghiên cứu và chứng minh tác dụng giảm đau trên chuột nhắt trắng.
- Tinh dầu có hoạt tính nhẹ kiểu nội tiết tố nữ, do đó hương phụ thường dùng điều kinh.
- Thuốc có tác dụng cường tim và hạ áp. Cồn chiết xuất Hương phụ có tác dụng ức chế trực tiếp cơ trơn của hồi tràng.

Công dụng và liều đùng
Theo y thư cổ, hương phụ vị cay, hơi đắng, ngọt, quy can và tam tiêu, có tác dụng lý khí, giải uất, điều kinh, chỉ thống. Ứng dụng thường gặp:
- Phụ khoa: kinh nguyệt không đều, thống kinh, viêm tử cung mạn, hỗ trợ trước và sau sinh.
- Tiêu hóa – thần kinh: đau dạ dày do thần kinh, ăn không tiêu, nôn mửa, đau bụng, đi lỵ.
Đơn thuốc có hương phụ
Cao Hương Ngải – Công Thức Gốc
Thành phần:
- Hương phụ: 1g
- Ngải cứu: 1g
- Ích mẫu: 1g
- Lá bạch đồng nữ: 1g
Cách chế:
Thêm nước, sắc kỹ. Cô đến cao đặc. Thêm đường vừa đủ cho vị ngọt. Đóng ống, hàn kín. Hấp tiệt trùng bằng cách đun sôi và giữ sôi 1 giờ.
Bảo quản: Có thể để nhiều năm không hỏng.
Công dụng:
- Chữa kinh nguyệt không đều.
- Giảm đau bụng khi hành kinh.
- Hỗ trợ khó sinh nở.
- Trị khí hư, bạch đới.
Liều dùng:
- Ngày uống từ 3–6 ống.
- Muốn điều kinh: uống đón kinh, bắt đầu 10 ngày trước kỳ dự kiến, duy trì liên tục 2–3 tháng.
- Có thể dùng lâu dài.

Lịch Sử Ứng Dụng
- 1946: Đỗ Tất Lợi xây dựng công thức, đặt tên FUNUX.
- 1955: Đổi tên thành CYPERIN.
- 1958: Bộ môn Dược liệu Trường Đại học giới thiệu với tên HƯƠNG NGẢI, thử tại Bệnh viện C.
- 1961: Báo cáo Bệnh viện C ghi nhận: thông kinh rõ, giảm đau cho hầu hết bệnh nhân, nhiều trường hợp tốt hơn thuốc tây; kinh ra nhiều hơn, tươi hơn, bệnh nhân phấn khởi
Thuốc Ống HA 1 (Từ 1964)
Thành phần (mỗi ống):
- Ích mẫu: 2g
- Hương phụ: 2g
- Ngải cứu: 2g
- Lá bạch đồng nữ: 2g
(gấp đôi so với Cao hương ngải gốc)
Cách chế: Như cao hương ngải.
Công dụng: Ngoài tác dụng phụ khoa, có hiệu quả trong một số trường hợp cao huyết áp.
Liều dùng: Ngày 2–3 ống.
Kết quả lâm sàng (Bệnh viện Việt–Tiệp Hải Phòng, Y học thực hành số 5/1965):
- Trên 90% bệnh nhân thấy dễ chịu khi uống.
- Bệnh nhân ưa dùng hơn tân dược vì “không gây nóng”.
- HA 1 giảm nhức đầu chậm hơn resecpin nhưng êm dịu hơn, giúp ngủ tốt, tinh thần khoan khoái, thậm chí mất hẳn tiếng kêu “chíp chíp” trong đầu.
Cách Dùng Khi Không Có Ống
- Công thức:
- Hương phụ: 4–6g
- Ngải cứu: 4–6g
- Ích mẫu: 4–6g
- Lá bạch đồng nữ: 4–6g
- Cách chế:
- Thêm 300 ml nước.
- Đun sôi, giữ sôi trong 30 phút.
- Thêm đường cho ngọt.
- Uống trong ngày.
