Trích từ sách: Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: GS. Đỗ Tất Lợi
Tên gọi và phân loại
Cây còn được biết với các tên: ích mẫu thảo, sung úy, chót đèn.
Tên khoa học: Leonurus heterophyllus Sw.
Họ: Hoa môi Lamiaceae (Labiatae).
Cây ích mẫu cho hai vị thuốc:
- Ích mẫu hay ích mẫu thảo (Herba Leonuri): toàn bộ phần trên mặt đất của cây, được phơi hoặc sấy khô.
- Sưng úy tử (Fructus Leonuri): quả chín phơi hoặc sấy khô, thường bị gọi nhầm là “hạt ích mẫu”.

Trước đây, dựa trên một số tài liệu trong và ngoài nước, cây được xác định là Leonurus sibiricus L. Hiện theo kết quả khảo sát đối chiếu mới, loài nhân dân ta dùng làm thuốc chủ yếu là Leonurus heterophyllus Sw. Còn Leonurus sibiricus L. cũng có ở Việt Nam nhưng ít gặp hơn. Khi nghiên cứu lâm sàng, hóa học hay dược lý cần phân biệt rõ.
Mô tả thực vật
Tên “ích mẫu” phản ánh công dụng có lợi cho phụ nữ sau sinh.
Danh pháp Leonurus bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp với “leon” là sư tử, “oura” là đuôi; “heterophyllus” nghĩa là lá biến dạng, do lá ở các vị trí khác nhau có hình thái khác nhau.
Ích mẫu sống 1 – 2 năm, cao khoảng 0,6 – 1 m. Thân vuông, ít phân nhánh, phủ lông mịn ngắn. Lá mọc đối, hình dạng thay đổi theo vị trí:
- Lá gốc có cuống dài, phiến hình tim, mép có răng cưa to và sâu.
- Lá giữa thân có cuống ngắn hơn, thường xẻ sâu thành 3 thùy, trên mỗi thùy có răng cưa thưa.
- Lá ngọn phần lớn không xẻ thùy, gần như không cuống.
Hoa mọc vòng ở nách lá, tràng màu hồng hoặc tím hồng, chia hai môi gần bằng nhau. Quả nhỏ, ba cạnh, vỏ xám nâu.
Ngoài loài trên còn gặp Leonurus sibiricus L. (tạm gọi ích mẫu hoa to) khác ở chỗ hoa lớn và dài hơn, các lá phía trên vẫn xẻ 3 thùy. Có thể tóm tắt:
1. Lá ngọn không xẻ thùy, tràng dài 9 – 12 mm, hai môi gần bằng nhau → Leonurus heterophyllus.

Ích mẫu – Leonurus heterophyllus
2. Lá ngọn xẻ 3 thùy, tràng dài 15 – 20 mm, môi dưới ngắn hơn môi trên → Leonurus sibiricus.

Phân bố, thu hái và chế biến
Cây hiện chủ yếu mọc hoang ở bãi sông, ven suối, đất cát, ruộng bỏ hoang, ven đường. Một số nơi đã trồng làm dược liệu nhưng chưa có tổng kết kỹ thuật canh tác tối ưu.
Nhu cầu dược liệu lớn nên nguồn hoang dại không đủ. Kinh nghiệm trồng tại Trạm trồng cây thuốc Nam Xuyên (Trung Quốc) cho thấy:
- Phân ba nhóm: ích mẫu mùa đông gieo mùa thu; ích mẫu mùa xuân gieo mùa xuân hoặc mùa thu; ích mẫu mùa hạ gieo mùa xuân hoặc mùa thu.
- Ích mẫu mùa hạ cho năng suất cao nhất khoảng 9 tấn khô/ha, song thời gian từ gieo đến thu hoạch hơn 10 tháng.
- Nhóm mùa đông và mùa xuân cần hơn 8 tháng, năng suất 4 – 6 tấn khô/ha.
Gieo hạt thẳng thành luống, khoảng cách luống 17 cm, cây trên luống cách nhau 7 cm cho sản lượng cao. Lượng giống 8 – 9 kg/ha, nên trộn hạt với tro bếp khi gieo.
Thu hái phần trên mặt đất vào khoảng tháng 5 – 6 khi cỡ một nửa số hoa nở, phơi hoặc sấy khô. Muốn thu quả cần đợi tàn hết hoa, thu đến đâu đập lấy quả đến đó. Năng suất quả khô 350 – 370 kg/ha.
Mùa thu hái thân lá: tháng 5 – 9. Mùa quả: tháng 8 – 10.
Thành phần hóa học
Với Leonurus heterophyllus chưa có nhiều tài liệu chi tiết; khảo sát sơ bộ ghi nhận alkaloids, tanin 7 – 8%, flavonozit.
Ở Leonwrus sibiricus, các nhà nghiên cứu Nhật Bản (1930) tách được 0,05% alkaloid gọi là leonurin (C,H,O,N), nhiệt độ chảy 238°C. Năm 1958, một số tác giả tại Bắc Kinh tách từ L. sibiricus 5 chất kết tinh, gồm:
- Leonurin A: C20H32O10N6, chảy 229 – 230°C
- Leonurin B: C14H24O7N4
- Ba chất không phải alkaloid, nhiệt độ chảy 77 – 78°C, 86 – 87°C và 141 – 142°C.

Leonurin
Năm 1940, Thang Đằng Hán tách từ phần tan trong nước một chất gọi leonuridin (C6H12O3N2), chảy 221,5 – 222°C. Hứa Thực Phương báo cáo thêm alkaloid leonurinin trong thân và quả, chảy 262 – 263°C, công thức C10H14O3N2. Hàm lượng alkaloid cao nhất vào tháng 5, sau đó giảm.
Ngoài ra còn có tannin, chất đắng, saponin, tinh dầu khoảng 0,03%. Về hoạt chất, dựa trên thực nghiệm dược lý cho thấy:
- Phần tan trong ete có xu hướng ức chế tử cung.
- Phần không tan trong ete lại kích thích tử cung.
Gần đây phát hiện thêm 3 flavonozit (một là rutin), một glucozit có cấu trúc steroid, ít tannin, toàn cây có leocacdin cùng cấu trúc với stachydrine, một ít tinh dầu. Alkaloid không phải là thành phần chính tạo tác dụng điều trị.
Tác dụng dược lý
Trên tử cung
Nước sắc L. sibiricus ở nồng độ 1/5.000 – 1/1.000 gây kích thích trên tử cung cô lập của thỏ cái, kể cả thỏ có thai hoặc không. Trên thỏ gây mê bằng urethan rồi cho uống nước sắc cũng thấy kích thích tử cung tại chỗ. Dung dịch nước 10% từ dược liệu khô tác dụng mạnh hơn dung dịch rượu 20%. Tác động tương tự cựa khoả mạch (Claviceps purpurea). Đáng chú ý, nếu trước khi sắc đã dùng ete loại phần tan trong ete, hiện tượng ức chế tử cung không còn.
Trên huyết áp
Nước sắc không tác động trực tiếp lên huyết áp nhưng làm giảm đáp ứng mạch máu với adrenalin. Cao ích mẫu hạ huyết áp, nhất là giai đoạn sớm của tăng huyết áp.
Trên tim mạch
Một số loài cùng chi như Leonurus quinquelobatus và Leonurus cardiaca cho thấy tác dụng tốt trên hệ tim mạch và cơ tim bệnh lý.
Trên hệ thần kinh
Tác dụng an thần của Leonurus sibiricus được ghi nhận mạnh hơn so với Valerian và Muyehe (Convallaria majalis).
Kháng khuẩn ngoài da
Theo “Trung Hoa bì phụ khoa tạp chí” (1957), dịch chiết ích mẫu tỷ lệ 1:4 ức chế ở mức khác nhau một số vi khuẩn gây bệnh ngoài da.
Trên viêm thận và phù cấp
Báo cáo lâm sàng ghi nhận ích mẫu giúp cải thiện một số ca viêm thận và phù (Trung y tạp chí 1959; Trung y dược 1966).
Công dụng và liều dùng

Từ lâu vị ích mẫu được nhân dân ta dùng chữa bệnh phụ nữ, nhất là đối với phụ nữ sau khi sinh nở, do đó có câu ca dao:
Nhân trần, ích mẫu đi đâu. Để cho gái đẻ đớn đau thế này?
Ứng dụng thường gặp:
- Cầm máu tử cung khi rong huyết sau sinh, viêm niêm mạc dạ con, cường kinh.
- Hỗ trợ cao huyết áp, bổ huyết, bệnh tuần hoàn cơ tim, rối loạn thần kinh tim, đau thắt ngực nhẹ.
- Quả ích mẫu (sưng úy tử) làm lợi tiểu, chữa phù nề, thiên đầu thống (glôcôm).
- Dùng ngoài: thân và quả giã đắp hoặc sắc rửa trị sưng vú, chốc đầu, lở ngứa.
Theo y thư cổ: vị cay, đắng, tính hơi hàn, có tác dụng trục ứ sinh tân, hoạt huyết điều kinh. Người đồng tử giãn không nên dùng.
Liều dùng: 6 – 12 g mỗi ngày dạng thuốc sắc hoặc nấu thành cao. Quả dùng 6 – 12 g/ngày dạng sắc.
Một số bài thuốc – chế phẩm
- Cao ích mẫu: nấu thân lá với nước, cô đặc thành cao mềm. Hiện trên thị trường nhiều chế phẩm phối hợp, ví dụ:
- Cao ích mẫu Thanh Hóa: ích mẫu nước 800 g, ngải diệp 200 g, hương phụ tứ chế 250 g (biến thể từ cao hương ngải).
- Cao ích mẫu Quốc doanh dược phẩm Nghệ An: ích mẫu 70%, xuyên khung 2%, đương quy 10%, bạch thược 3%, thục địa 1%, bắc mộc hương 1%, đại táo 2%, trần bì 1%, hương phụ chế 5%, ô dược 2%.
Công thức có thể thay đổi theo thời kỳ và cơ sở sản xuất, khi dùng cần theo dõi để tránh nhầm lẫn.
Công thức thống nhất hiện nay:
Ích mẫu 800 g, ngải cứu 200 g, hương phụ 250 g, tá dược (xirô, cồn 15°) vừa đủ 1000 g.
Cao hương ngải dùng theo quy cách riêng.
Giá trị hiện đại và kết luận
Ngày nay, ích mẫu (Leonurus heterophyllus) nằm ở giao điểm giữa tri thức y học cổ truyền và nghiên cứu hiện đại, mở ra tiềm năng cho y học tích hợp và phát triển thuốc có nguồn gốc thực vật. Sự quan tâm tăng lên nhờ tổ hợp tác dụng đa dạng trên phụ khoa, tim mạch, tiết niệu và kháng khuẩn. Giới khoa học tiếp tục làm rõ các hợp chất hoạt tính sinh học, trong khi ngành dược liệu cải tiến kỹ thuật canh tác để đảm bảo nguồn cung bền vững. Bề dày lịch sử sử dụng cộng hưởng cùng tiềm năng khoa học khiến ích mẫu trở thành ví dụ tiêu biểu về khả năng đóng góp của dược liệu cổ truyền vào y học đương đại.
Câu hỏi thường gặp (FAQs)
1. Ích mẫu (Leonurus heterophyllus) mang lại những lợi ích sức khỏe nào nổi bật?
Vị thuốc hỗ trợ sức khỏe sinh sản nữ, giúp điều hòa kinh nguyệt, hoạt huyết, đồng thời được ứng dụng trong cao huyết áp, một số bệnh tim mạch và phù nề.
2. Bộ phận nào của ích mẫu được dùng trong y học cổ truyền?
Hai dạng dùng phổ biến là toàn bộ phần trên mặt đất (Herba Leonuri) và quả khô (Fructus Leonuri), mỗi dạng có chỉ định trị liệu riêng.
3. Ích mẫu có an toàn với mọi đối tượng không?
Tương đối an toàn khi dùng đúng liều 6 – 12 g/ngày, nhưng chống chỉ định ở người đồng tử giãn. Tốt nhất sử dụng theo hướng dẫn của thầy thuốc hoặc chuyên gia y học cổ truyền.
