Cây Thạch Lựu – Vị Thuốc Quý Trong Y Học Cổ Truyền

Trích từ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”

 Tác giả: Đỗ Tất Lợi

Cây thạch lựu (Punica granatum L.) từ lâu đã được con người trân trọng không chỉ vì quả ngọt mọng, màu đỏ rực rỡ mà còn vì những giá trị sức khỏe quý báu mà nó mang lại. Từ y học cổ truyền đến nghiên cứu hiện đại, các bộ phận của thạch lựu – quả, vỏ, rễ, hoa – đều chứa những thành phần có lợi, giúp cân bằng cơ thể, tăng cường sinh lực, hỗ trợ tiêu hóa và phòng ngừa nhiều bệnh lý. Hơn cả một loại quả ngon, thạch lựu là biểu tượng của sức sống và sự thịnh vượng, minh chứng cho trí tuệ của nền y học dân gian qua nhiều thế kỷ. Bài viết này sẽ đưa người đọc khám phá những công dụng, ứng dụng và ý nghĩa sức khỏe của cây thạch lựu, một “thần dược” thiên nhiên mà con người đã tin dùng từ bao đời nay.

Thông tin chung

Còn có tên gọi là bạch lựu, tháp lưu, lựu chùa Tháp.

Tên khoa học Punica granatum L.

Thuộc họ Lựu Punicaceae.

Ta dùng vỏ thân, vỏ cành, vỏ rễ phơi hay sấy khô (Cortex Granati) hay có khi dùng vỏ quả lựu phơi hay sấy khô (Pericarpium Granati). (Vỏ, thân và rễ lựu có độc, dùng phải cẩn thận).

Mô tả cây Thạch Lựu

Cây lựu là một cây thuộc mộc, cao chừng 3- 4m, cây nhỏ, có khi có gai. Lá dài, nhỏ, mềm mỏng, đơn, mép nguyên có khi mọc thành cụm nhưng thường mọc so le hoặc hơi mọc đối, cuống ngắn. Mùa hạ nở hoa màu đỏ tươi hoặc màu trắng (bạch lựu) hoặc mọc riêng lẻ hoặc từng xim có độ 3 hoa.

Quả to bằng nắm tay. Đầu quả còn 4-5 lá đài tồn tại. Vỏ dày, ngoài da sắc lục, khi chín có màu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có 8 ngăn xếp thành hai tầng, tầng trên có 5 ngăn tầng dưới có 3. Các loại ngăn phân cách bởi các màng mỏng, hạt rất nhiều, hình 5 cạnh, sắc hồng trắng.

Cây Thạch Lựu

Cây Thạch Lựu – Punica granatum L.

Phân bố, thu hái và chế biến

Được trồng ở khắp nơi để làm cảnh và lấy quả. Trồng bằng cách dâm cành. Tỷ lệ ancaloit thay đổi tùy theo cách bón phân.

Nếu bón bằng canxi supephotphat tỷ lệ ancaloit sẽ là 5,5% (cành) và 7.5% (rễ).

Nếu bón bằng phân amon sunfat thì tỷ lệ ancaloit là 4,2% (cành) và 6,3% (rễ).

Nếu bón bằng phân sắt sunfat tỷ lệ ancaloit là 5,7% (cành) và 6,1% (rễ).

Vậy tỷ lệ ancaloit trong rễ bao giờ cũng cao hơn. Thường người ta quy định tỷ lệ ancaloit toàn phần là 2,5%.

Và bóc về phơi khô để dành. Dùng càng sớm càng tốt. Có người nói vô để lâu quá 1 năm không còn tác dụng. Nhưng có tác giả đã dùng để dành trên 10 năm vẫn còn tác dụng không phải chế biến gì khác.

Thành phần hóa học

Vỏ rễ, vỏ thân và vỏ cành có chứa chừng 22% tanin (axit galatanic hoặc digalic và axit punicotanic).

Ngoài ra còn chứa các chất ancaloit:

  • Peletierin C8H15ON
  • Isopeletierin C8H15ON
  • Cả hai không bị NaHCo3 đẩy là vì Ancaloit có N bậc 2.
  • Metylpeletierin C8H14(CH3)ON
  • Pseudopeletierin C9H15ON

Tỷ lệ ancaloit trung bình tính bằng dạng sunfat trong 1kg vỏ là:

  • Peletierin sunfat 0,7-1 g
  • Isopeletierin sunfat 1,3-1,5g
  • Pseudopeletierin 1,5-2 g
  • Metylisopeletierin 0,04 g

Nhưng tỷ lệ này thay đổi tùy theo điều kiện hái, cách chăm sóc và bảo quản.

Trong các ancaloit trên chỉ có peletierin, isopeletierin có tác dụng trị sán.

Theo các tài liệu mới gần đây, người ta không công nhận có peletierin, mà chỉ có isopeletierin, pseudopeletierin và metylisopeletierin.

Trong vỏ quả có chừng 28% tanin và chất màu.

Cây Thạch Lựu

Cây Thạch Lựu

Tác dụng dược lý

1. Tanin là một chất có tác dụng săn da và sát khuẩn mạnh.

2. Chất peletierin độc đối với sản, nó gây tê liệt đối với ếch: trước giai đoạn tê liệt có một giai đoạn kích thích. Đối với động vật có vú lúc đầu peletienin tăng độ kích thích của phản xạ, sau đó làm tê liệt thần kinh trung ương và gây ngừng hô hấp mà chết.

Peletierin kích thích cả cơ trơn và cơ vân

Đối với người, liều 0,5 đến 0,6g peletierin (hơi quá cao đối với điều trị thông thường) đã đủ gây chóng mặt, buồn nôn hoặc nôn mửa, ỉa lỏng chân tay xỉu đi, người là, mắt hoa vv.

Dù với liều điều trị khi dùng thuốc, bệnh nhân. cần phải nằm yên trong phòng tối để tránh mọi ảnh hưởng không tốt của thuốc. Thường phối hợp với tanin để tránh tác dụng thuốc quá mạnh. Peletierin không dùng được cho trẻ con và phụ nữ có thai.

Thử trên sinh vật: Ngâm các đốt còn sống của con sán Tenia serrata vào dung dịch muối 1/ 10.000 peletierin sunfat nó sẽ hết cử động trong vòng 5-6 phút. Nếu khi đó lấy ra, cho vào dung dịch muối 1% có thêm 0,1% Na,CO, thì sau 15- 30 phút các đốt sẽ cử động lại. Nếu như đã ngâm các đốt sản vào dung dịch peletierin quá 10 phút, các đốt sản sẽ chết hẳn.

Thí nghiệm trên giun đất và giun mỏ (ankylostome) cũng thấy các kết quả tốt.

Công dụng và liều dùng

1. Làm thuốc chữa sán (phụ nữ có thai và trẻ em không dùng được).

Nên dùng vỏ rễ lựu vì trong vỏ, chất peletierin, isopeletierin được kết hợp tự nhiên với tanin thành một chất không tan, tác dụng nhiều đối với sán ở trong ruột, ít làm mệt cơ thể người. Tuy nhiên uống cả vỏ hơi khó uống.

Nên chọn vỏ mới đào, vì vỏ tươi hiệu lực mạnh hơn do có nhiều ancaloit. Khi dùng rễ khô, cần ngâm nước vài giờ trước khi pha chế thì vẫn có hiệu lực chữa sân (Soubeyran). J. E. de Vrij đã dùng vỏ lựu bảo quản được 13 năm để chế cao mà vẫn có hiệu lực như vỏ tươi.

Ta có thể dùng peletierin chế từ vỏ lựu. Liều dùng peletierin sunfat thường là 0,30g phối hợp với 0,40g tanin. Một số tác giả cho rằng tác dụng 50-60% pseudo-peletierin không có tác dụng. Trong trường hợp này liều dùng phải tăng lên từ 0,30g đến 0,50g trong 24 giờ. Nhưng dùng phải rất thận trọng, có trường hợp dùng liều thường vẫn bị ngộ độc chết người.

2. Ngoài công dụng chữa sán, vỏ rễ và vỏ thân còn dùng làm thuốc ngậm chữa đau răng, chữa đi ngoài, đi lỵ. Nhưng để chữa lỵ đi ngoài, thường dùng vỏ quả (xem vỏ quả ở mục các vị thuốc chữa lỵ).

Ngoài ra còn dùng để thuộc da, làm mực.

Đơn thuốc có vỏ lựu

1. Thuốc chữa sán theo được thư của Pháp

  • Vỏ lựu khô tán vừa phải 60 g
  • Nước cất 750 g

Cần ngâm bột trong 6 giờ. Sau đó sắc còn 500g rồi gạn và lọc.

Sáng sớm uống thuốc này, chia làm 2 lần hay 3 lần uống cứ cách nửa giờ uống 1 lần, sau khi uống liều cuối cùng được 2 giờ thì uống 1 liều thuốc tẩy. Khi uống thuốc cần nằm nghỉ, nhắm mắt lại cho đỡ mệt

2. Đơn thuốc chữa sán có phối hợp với thuốc

  • Vỏ rễ lựu 40 g
  • Đại hoàng 4g
  • Hat cau 4g
  • Nước 750ml sắc còn 300ml.

Tối hôm trước nhịn đói. Sáng sớm hôm sau uống thuốc này, chia làm 2-3 lần uống. Trong khi uống thuốc cần nằm nghĩ. Đợi khi nào thật buồn đi ngoài hãy đi, mông nhưng hẳn vào một chậu nước âm ấm để sán ra hết.

Câu hỏi thường gặp

1. Nước ép thạch lựu có thể thay thế thuốc không?

Nước ép quả chín tốt cho sức khỏe, nhưng không thay thế hoàn toàn các bài thuốc từ vỏ, rễ hay hoa khi dùng điều trị bệnh lý.

2. Thạch lựu có độc không?

Quả chín ăn an toàn. Vỏ quả, vỏ rễ, hoa dùng làm thuốc nếu quá liều hoặc chế biến sai cách có thể gây buồn nôn, táo bón, chóng mặt.

3. Thạch lựu có thể dùng ngoài da được không?

Có thể dùng vỏ quả hoặc nước sắc hoa để rửa vết thương, trị mụn hoặc ngâm tắm, nhưng cần đảm bảo vệ sinh và theo hướng dẫn y học dân gian.

4. Có thể tự ý làm thuốc từ thạch lựu không?

Không nên tự ý chế biến và dùng thạch lựu làm thuốc nếu bạn không có kiến thức y học cổ truyền hoặc hướng dẫn của bác sĩ.
– Trong y học cổ truyền, liều lượng, bộ phận dùng, cách sơ chế (sấy, phơi, sắc) đều rất quan trọng để tránh tác dụng phụ.
– Quả chín có thể ăn bình thường hoặc làm nước ép, nhưng vỏ quả, vỏ rễ, hoa chỉ nên dùng theo công thức y học cổ truyền hoặc sự hướng dẫn của chuyên gia.

5. Có thể kết hợp thạch lựu với các vị thuốc khác không?

Có thể, ví dụ phối hợp với hạt cau, hạt bí, các thảo dược bổ huyết khác, nhưng cần theo công thức y học cổ truyền.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ hàng