5g Thùn Mũn buổi sáng, hết giun sán ngay lập tức – Bạn có tin không? 

Trích từ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
Tác giả: Đỗ Tất Lợi   

Còn gọi là cây chua meo (tên ở Lạng Giang, Bắc Giang), cây phi tử, cây chua ngút – vốn vén, tấm cùi (Thổ), xốm mun (Thái).
Tên khoa học: Embelia ribes Burm.
Họ: Đơn nem (Myrsinaceae).

Người ta thường dùng quả phơi hoặc sấy khô của cây thùn mũn.

Mô tả cây

Cây mọc hoang ở các đồi, thành từng bụi cao khoảng 1-2m. Thân màu tía tím, thỉnh thoảng có cành đỏ tươi hơn, trông hơi mốc. Có vạch rất rõ, bì khổng nhỏ như hạt kê.

Lá: mọc so le, hình lưỡi mác, mặt dưới nhạt hơn, dài 4,5-5 cm, rộng 1,5-2 cm. Phiến ở phía cuống hẹp và nhọn. Cuống lá ngắn 5-6 mm.

Quả: Khi chín, hái về xát sạch vỏ, phơi khô hoặc phơi khò; khi dùng tán nhỏ. 

Vị: lúc đầu ngọt, sau chua và hơi tê tê.

Thành phần hóa học

Trong quả có tannins, tính dầu và axit embelic (còn gọi là embelin hay embelon = dihydroxy 2-3-lauryl 3-benzoquinone 1-4), một chất thuộc cấu tạo quinone.

Hình ảnh cấu trúc hóa học của embelon được trích từ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi.

Tác dụng dược lý

Hiện chưa có tài liệu nghiên cứu chính thức, nhưng nhân dân dùng làm thuốc chữa giun sán, không thấy có hiện tượng độc, chỉ hơi say say.

Công dụng và liều dùng

Nhân dân dùng hạt trị giun đũa, giun kimsán xơ mít:

  • Tối hôm trước nhịn ăn, sáng sớm hôm sau uống 5g bột trộn với mật hoặc đường.
  • Trẻ em: uống 2-2,5g.
  • Ở Bắc Ninh có nơi uống tới 3 thìa súp gạt ngang.

Chú thích:

  1. Tên chua ngút, phi tử còn dùng chỉ hạt và quả của cây Cordia bantamensis Blume (họ Vòi voi – Boraginaceae) và cây Leea rubra Blume (họ Leeaceae), chưa có tài liệu nghiên cứu. Công dụng và liều dùng tương tự như trên
  2. Ở các nước khác còn dùng quả của cây Embelia robusta Roxb, Embelia micrantha DC., cùng họ.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ hàng