CỎ SỮA NHỎ LÁ

Trích từ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”

Tác giả: Đỗ Tất Lợi

Thông tin chung

Tên khoa học Euphorbia thymifolia Burm (E.prostrata Grah).

Thuộc họ Thầu dầu Euphorbiaceae.

Ta dùng toàn cây phơi khô của cây cỏ sữa nhỏ lá.

A. Mô tả cây

Có sữa là một loại cỏ nhỏ, gầy. mọc là là trên mặt đất, thân và cành tím đỏ. Lá mọc đối, hình bầu dục hay thon dài, dài nhất 7mm, rộng chừng 4mm mép lá hơi khía tai bèo. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim đơn mang ít hoa. Quả nang đường kính 1.5mm, có lông. Hạt nhấn, dài 0,7mm có 4 góc (Hình 139, Hm 45,3 ).

Toàn thân bấm đều chảy một chất nhựa mủ trắng.

Hình 139. Cỏ sữa nhỏ lá – Euphorbia thymiƒolia

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang khắp nơi ở Việt nam. Ưa các đất có sói, đá thường thấy ở các kẽ các gạch, sân xi măng dọc đường xe lửa có đải những hòn đá vôi xanh.

Hái vào mùa hè. Hái về rửa sạch, sao vàng phơi khô mà đùng. Có mọc ở Ấn Độ, Inđônêxia, Trung Quốc, Philippin.

C. Thành phần hóa học

Toàn cây có ancaloit (theo C. A. 1966, 64, 1013a), thân và lá có cosmosiin C21H20O10 chừng 0,037%, rễ có taraxerol, và tirucallol C30H50Omyrixyl alcohol (C. A. 1967, 66, 73239g)

D. Tác dụng dược lý

Theo Coop Acdieu Xki 1947 (Buil. Soc. Chimie biologique số 29: 924-926) chất nhựa mủ của cỏ sữa có tính gây xót đối với niêm mạc và độc với cá và chuột.

Dung dịch cỏ sữa 1/20 đến 1/40 có tác dụng ức chế sự sinh sản của các loại vi trùng Iỵ Sonner, FlexneShiga.

E. Công dụng và liều dùng

Vị thuốc chữa lỵ rất phổ cập trong nhân dân. Hay dùng nhất đối với trẻ em. Hằng ngày dùng 15g đến 20g (có thể dùng tới 50g) dưới dạng thuốc sắc.

Hình 140. Có sữa lớn lá – Euphorbia hưta.

Người lớn có thể dùng tới 100-150g.

Mặc dầu có những tài liệu nghiên cứu dược lý kể trên, thực tế lâm sàng không thấy có triệu chứng độc trong và sau khi uống thuốc. Thời gian điều trị thường từ 5-7 ngày là khỏi. Dùng riêng hoặc phối hợp với vị rau sam.

Ngoài công dụng chữa lỵ ở nước ta, cây cỏ sữa nhỏ lá còn được dùng ở nước khác làm thuốc diệt sâu bọ và duốc cá (Ấn Ðộ), giã đắp chữa bệnh ngoài da và vết thương (Malaysia, A Rập).

Chú thích:

Ở nước ta còn có một cây mang tên cỏ sữa lớn lá (Euphorbia ha L. Enphorbia phulfera L. cùng họ). (Hình 138, Hm 50,1).

Theo A. Pételot sưu tầm, thì cây này được nhân dân ta dùng chữa lỵ. Nhưng theo kinh nghiệm bản thân chúng tôi đã dùng và giới thiệu từ trước 1945, cũng như kinh nghiệm của Viện nghiên cứu đông y (Y học thực hành tháng 11-1961) thì cây có sữa nhỏ lá hay được dùng hơn.

Cây cỏ sữa lớn lá là một cây sống hằng năm hoặc sống dai, thân mọc thẳng có thể cao tới 30-40cm, màu đỏ nhạt, phủ lông màu vàng nhạt, Có lá màu xanh lẫn màu đỏ, mọc dài, hình mác dài 2-3cm, rộng 5-15mm, mép có răng cưa nhỏ, cuống ngắn, hoa nhỏ, màu trắng đỏ nhạt, mọc thành xim đơn, hình cầu ở kế lá. Quả lúc đầu đỏ, sau xanh và nâu. Hạt màu đỏ nhạt, nhỏ có mặt xù xì.

Mọc hoang khắp nơi ở Việt Nam. Cũng ưa những đất sỏi, đá như cỏ sữa nhỏ lá.

Theo Power và Browning (1013 Pharm. J:506) trong có sữa lớn lá có axit galic, một glucozit độc chưa xác định được và một chất nhựa. Toàn cây chứa taraxerol, b sitosterol (Phytochemisrry 1972, II, 1860). Theo Wehmer C. trong Die Pflanzenstoffe II, 1931, 699, thì trong cỏ sữa lớn lá có jambulol, axit melissic, một ít tinh dầu, một ít ancaloit, quexetin. Theo Karrer W. (Konstit, und Vorkom, der Org. Pflanzenst, 1958, 1538) có xanthorhamin C34H42O20 ước 0,2%. Thân chứa friedelin, myrixyl alcohol hentriacontan (C. A., 1967, 66, 26550b). Hoa tươi chứa axit ellagic.

Hoạt chất của sữa lớn lá với liều nhỏ có độc đối với súc vật. Con vật chết do ngừng hô hấp, tim lúc đầu đập nhanh sau chậm lại. Tại chỗ không có tác dụng trên da cũng như niêm mạc nhưng gây xót với niêm mạc dạ dày. Liều độc đối với súc vật lg cây khô /1kg thể trọng.

Tại các nước khác, cỏ sữa lớn lá được dùng chữa đau mắt, loét giác mạc (Malaisia), bệnh ho, hen

Năm 1975, ở Việt Nam cao nước cỏ sữa lớn lá được phối hợp với vị hoàng đằng để sản xuất thuốc chữa hội chứng lỵ mang tên codanzrt (Phan Quốc Kinh và cộng sự, 1975).

Những câu hỏi thường gặp

1. Tại sao gọi là “cây cỏ sữa” và cây này có thực sự giúp lợi sữa cho phụ nữ sau sinh không?

Tên gọi “cỏ sữa” bắt nguồn từ đặc điểm khi bẻ ngang thân hoặc lá sẽ thấy tiết ra chất dịch nhựa mủ màu trắng đục như sữa. Theo kinh nghiệm dân gian, cả cỏ sữa nhỏ lá và lớn lá đều có tác dụng thông sữa, giúp phụ nữ sau sinh khắc phục tình trạng thiếu sữa hoặc tắc tia sữa bằng cách sắc uống hoặc nấu cháo.Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – GS.TS. Đỗ Tất Lợi

2. Phụ nữ đang mang thai có nên dùng cỏ sữa nhỏ lá không?

Trong tài liệu y học cổ truyền, cỏ sữa nhỏ lá có tính hàn (mát), có tác dụng thanh nhiệt và hoạt huyết nhất định. Phụ nữ đang mang thai không nên tự ý sử dụng loại cỏ này, đặc biệt là dạng uống, vì các vị thuốc có tính hoạt huyết mạnh có thể gây ảnh hưởng không tốt đến thai nhi (động thai).Từ điển Cây thuốc Việt Nam – Võ Văn Chi; Chuyên mục tư vấn sức khỏe – Báo Sức khỏe & Đời sống (Bộ Y tế)

3. Cỏ sữa nhỏ lá có tác dụng gì trong việc làm đẹp da và trị mụn?

Nhờ tính kháng khuẩn cao và khả năng ức chế vi trùng, cỏ sữa nhỏ lá thường được dùng để trị mụn trứng cá, mụn nhọt và các bệnh ngoài da. Cách dùng phổ biến là giã nát cây tươi đắp trực tiếp hoặc nấu nước rửa vùng da bị tổn thương. Đối với trẻ em, nước sắc cỏ sữa cũng giúp trị rôm sảy và ngứa ngáy rất hiệu quả. Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Viện Dược liệu.

4. Làm thế nào để phân biệt cỏ sữa nhỏ lá với cây Chó đẻ (Diệp hạ châu) khi chúng mọc cạnh nhau?

Hai loại này rất dễ nhầm lẫn do đều là cây thân thảo nhỏ mọc sát đất. Bạn có thể phân biệt qua 2 đặc điểm chính:
Cỏ sữa: Thân màu tím đỏ, khi bẻ có nhựa mủ trắng.
Cây Chó đẻ: Thân xanh hoặc hồng nhạt, không có nhựa mủ, dưới gân lá có hàng quả tròn nhỏ đặc trưng.
Nhận diện dược liệu – Viện Dược liệu (Bộ Y tế)

5. Người có cơ địa “tỳ vị hư hàn” (hay lạnh bụng, tiêu chảy) cần lưu ý gì khi dùng?

Vì cỏ sữa nhỏ lá có tính hàn, nên những người thường xuyên bị lạnh bụng, sợ lạnh hoặc đi ngoài phân lỏng (không phải do lỵ) nếu dùng lâu dài có thể làm tình trạng nặng thêm. Để giảm bớt tính hàn, dân gian thường sao vàng vị thuốc trước khi dùng hoặc kết hợp với các vị thuốc có tính ấm như gừng. Dược tính chỉ nam – Hải Thượng Lãn Ông.

6. Cỏ sữa nhỏ lá tươi và khô, loại nào tốt hơn?

Cả hai loại đều giữ được dược tính nếu được bảo quản đúng cách. Tuy nhiên, nếu dùng để chữa bệnh đường ruột (kiết lỵ), tài liệu thường khuyến khích sao vàng phơi khô để thuốc ổn định và dễ bảo quản hơn. Nếu dùng đắp ngoài da để trị mụn nhọt thì dùng cây tươi sẽ giữ được lượng nhựa mủ và tinh dầu kháng khuẩn tốt nhất. Tài liệu gốc về Cỏ sữa nhỏ lá – Euphorbia thymifolia Burm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Giỏ hàng